Diễn đàn Sử học Trẻ

Diễn đàn Sử học Trẻ
Click vào biểu tượng trên đây để vào forum
  • Diễn đàn Sử học Trẻ Việt Nam (YVFHS) là một diễn đàn dành cho thanh thiếu niên Việt Nam nói riêng và những người yêu Sử nói chung, có nhu cầu giao lưu - tìm hiểu - trao đổi kiến thức Khoa học xã hội và nhân văn mà trọng tâm là Sử học.
  • Nội dung của diễn đàn chủ yếu là chuyển tải thành tựu văn hóa thế giới, truyền bá kiến thức Sử học, củng cố truyền thống yêu nước cách mạng và lòng tự hào dân tộc trong nhân dân đặc biệt là thanh niên ; đi đôi với nghiên cứu đề tài lịch sử, giới thiệu các công trình Khoa học - sản phẩm tư duy trí tuệ của giới sử học, tạo một môi trường tự học – nghiên cứu – vui chơi lành mạnh.
  • Hãy đến suhoctre.no1.vn

* YVFHS is a forum which is engaged Vietnamese Teenagers and Students History Lovers, also who really wanna exchange-get information-share knowledge about Society and Humans Sciences but the most important point is still History. Its body mainly is not only transmiting the World’s cultural achievements, spreading History knowledge, but also strengthening Vietnamese patriotic tradition and people’s pride; Going together with researching History , introducing many sciential projects – Historians ‘s intelligent products and thinking process. At the same time, making a self-educated and self-researched- healthy amusing. Well, You can join in this forum through this link (Surely no virus) 1: http://suhoctre.no1.vn Or 2: http://nghiencuulichsu.hisforum.net .Both are welcome you.

·


Thứ Năm, 7 tháng 8, 2008

Bình luận câu nói của Ngô Sĩ Liên, trong Đại Việt Sử kí toàn thư về cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng

Bình luận câu nói của Ngô Sĩ Liên, trong Đại Việt Sử kí toàn thư về cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng: “Trưng Trắc, Trưng Nhị hô một tiếng mà các quận Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố và 65 thành trì ở Lĩnh Ngoại đều hưởng ứng.”?

Bài bình luận


Hai Bà Trưng là cái tên mà người Việt Nam qua nhiều thế hệ gọi tên hai người phụ nữ vốn là hai chị em ruột với niềm tự hào sâu sắc. Đó là Trưng Trắc và Trưng Nhị, những người phụ nữ “rất anh dũng”, “có đảm lược”, đã quả cảm phát động và lãnh đạo nhân dân cả nước ta, vùng lên đập tan chính quyền đô hộ của nhà Đông Hán và lập nên nền độc lập, tự chủ trong vòng gần ba năm sau hơn 200 năm chìm đắm dưới ách đô hộ của các triều đại phong kiến phương Bắc.

Theo sử cũ chép lại, Trưng Trắc và Trưng Nhị là 2 chị em con Lạc tướng Mê Linh thuộc dòng họ Hùng, có ý thức bất khuất và tự chủ, ý thức dân tộc sâu sắc. Chồng Trưng Trắc là Thi Sách, con trai một Lạc tướng huyện Chu Diễn bị giặc ngoại xâm giết hại. Trước cảnh nước mất nhà tan Trưng Trắc cùng em Trưng Nhị quyết tâm tiến hành khởi nghĩa "Đền nợ nước, trả thù nhà".

Về diễn biến của cuộc khởi nghĩa của Hai Bà có thể chia thành hai giai đoạn chính : Giai đoạn một, từ năm 40 đến năm 42 là thời kì Hai Bà Trưng phất cờ khởi nghĩa. Giai đoạn hai, từ hè năm 42 – 43 là thời kì Hai Bà Trưng tổ chức cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Hán.
Vào giai đoạn thứ nhất, Mùa xuân năm 40 (tháng 3 dương lịch), cuộc khởi nghĩa bùng nổ ở Hát Môn (Mê Linh, Vĩnh Phúc). Một điều quan trọng cần phải nhắc đến đó là lực lượng tham gia cuộc khởi nghĩa đông đảo nhất là phụ nữ. Đánh giá về cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng, trong Đại Việt sử kí toàn thư, Ngô Sĩ Liên có viết : “Trưng Trắc, Trưng Nhị hô một tiếng mà các quận Cửu Châu, Nhật Nam, Hợp Phố và 65 thành trì đều hưởng ứng”. Trong câu nói của Ngô Sĩ Liên có một một cụm từ “Hô một tiếng mà các nơi hưởng ứng”, điều này chứng tỏ nhân dân ta khắp nơi đã nghe theo tiếng gọi, lệnh khởi nghĩa của Hai bà Trưng và vùng dậy chống nhà Hán. Khởi nghĩa Hát Môn lập tức được sự hưởng ứng của các lạc tướng lạc dân không chỉ ở Mê Linh, Chu Diên mà còn ở địa phương khác. Hậu Hán thư có nêu :

Những người Man, người Lý ở 4 quận giao Chỉ, Cửu Chân Nhật Nam, Hợp Phố đều nhất tề nổi dậy hưởng ứng. Phong trào này đã nhanh chóng trở thành một cuộc nổi dậy của toàn dân, vừa mang tính chất toả rộng. Cuộc nổi dậy và hưởng ứng cuộc khởi nghĩa của các địa phương chứng tỏ rằng tinh thần dân tộc Việt, ý thức độc lập đã thức tỉnh song hành với nó là sự đoàn kết đấu tranh của dân tộc ta. Bên cạnh đó, phản ánh sâu sắc tinh thần dân tộc khá rõ rệt của các lạc tướng, lạc dân trong các bộ lạc hợp thành nước Âu Lạc cũ. Đạo lí này được thể hiện qua câu ca dao :

“Nhiễu điều phủ lấy giá gương;
Người trong một nước phải thương nhau cùng.”

Từ Mê Linh, nghĩa quân đánh chiếm thành Cổ Loa và Luy Lâu buộc Thái thú Tô Định phải trốn về nước. Khởi nghĩa thắng lợi, Trưng Trắc được suy tôn làm vua (sử cũ gọi là Trưng Vương), đóng đô ở Mê Linh (Vĩnh Phúc), tổ chức và xây dựng chính quyền độc lập tự chủ. Về sự kiện này trong Đại Nam quốc sử diễn ca có viết :

“Đô Kì đóng cõi Mê Linh,
Lĩnh Nam riêng một triều đình nước ta.”

Giai đoạn hai, bắt đầu từ mùa hè năm 42, nhà Đông Hán sai tướng Mã Viện đem 2 vạn quân chủ lực, 2 nghìn xe thuyền sang xâm lược. Trong cuộc chiến đấu chống giặc ở Lãng Bạc, quân của Hai Bà bị thiệt hại nặng, phải lui về Cổ Loa, rồi Cấm Khê (chân núi Ba Vì - Hà Tây) lập căn cứ chống giữ. Sau một năm chiến đấu quyết liệt, Hai Bà đã nhảy xuống sông Hát tự vẫn để giữ tròn khí tiết vào mùa hè năm 43 :

“Cấm Khê đến lúc hiểm nghèo
Chị em thất thế cũng liều với sông”

Xuyên suốt lịch sử, vǎn hoá dân tộc Việt Nam, Hai Bà Trưng đã được truyền thuyết dân gian tiếp nối qua nhiều đời và là một chân lý chói ngời trong đời sống tâm linh người Việt. Khi nói đến phụ nữ Việt Nam nêu gương sáng và là niềm tự hào của đất nước, người Việt Nam không quên nhắc đến Hai Bà Trưng. Tuy thất bại song qua cuộc khởi nghĩa chúng ta đã thấy được những biểu hiện về sự hưởng ứng nhiệt tình của nhân dân, khí thế của cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng hơn thế nữa là tấm gươngoanh liệt ngàn thu của Hai Bà. Xin dùng những hình ảnh thơ trong “Đại Nam Quốc sử diễn ca” để làm rõ thêm câu nói của Ngô Sĩ liên và thay cho phần kết :

“Ngàn Tây nổi áng phong trần,
Ầm ầm binh mã xuống phần Long Biên.”


Thủ Đức, 21/05/2008
Châu Tiến Lộc

Thứ Ba, 5 tháng 8, 2008

Luật pháp nước ta

LUẬT PHÁP NƯỚC TA (*)

* Thời Ngô, Đinh, Tiền Lê, Nhà nước chưa có một hệ thống pháp luật. Đến năm 1042, vua Lý Thái Tông sai Trung thư san định luật lệnh, chấn chỉnh cho thích dụng với thời thế, làm thành sách Hình thư của một triều đại, để cho người xem dễ hiểu. Sách làm xong xuống chiếu ban hành, dân lấy làm tiện.

Pháp luật thời Lý phản ánh rõ sự phân biệt đẳng cấp xã hội. Đẳng cấp quý tộc quan liêu được hưởng nhiều đặc quyền, ngay cả trang phục nhà cửa cũng phân biệt với nhân dân.

* Năm 1230, vua Trần Thái Tông ban hành bộ Quốc triều thông chế (gồm 20 quyển) quy định về tổ chức chính quyền, Sau đó, qua nhiều lần sửa chữa và bổ sung, nhag Trần lại ban hành bộ Quốc triều hình luật :

Pháp luật thời Trần khẳng định và củng cố sự phân chia đẳng cấp. Đại quý tộc trước hết là vua và hoàng gia được pháp luật bảo vệ các đặc quyền, đặc lợi.

* Năm 1483, vua Lê Thánh Tông quyết định triệu tập các đại thần biên soạn một bộ luật chính thức của triều đại mình, thường được gọi là Luật Hồng Đức. Ở các thế kỉ XVII – XVIII, Bộ luật được bổ sung sửa đổi ít nhiều và được ban hành với tên Lê triều Hình luật.

Luật Hồng Đức thể hiện rõ ý thức giai cấp nhà Lê trong các mối quan hệ nhưng cũng phản ánh rõ nét tính dân tộc. Ở đây nổi lên ý thức bảo vệ độc lập dân tộc và toàn vẹn lãnh thổ. Bộ luật đánh dấu một trình độ phát triển cap trong bốn thế kỉ thời Lê (XV – XVIII).

* Năm 1811, Tổng trấn Bắc Thành được lệnh chủ trì biên soạn bộ luật mới của thời Nguyễn lựa theo ý của vua Gia Long. Nhóm Nguyễn Văn Thành đã sao chép gần như nguyên vẹn bộ luật nhà Thanh đang được thi hành. Năm 1815, bộ luật được ban hành với tên Hoàng triều luật lệ (hay Luật Gia Long).

Hoàng triều luật lệ đề cao uy quyền của hoàng đế, triều định lại mô phỏng luật nhà Thanh nên những quy định về xử phạt rất hà khắc, nhất là những tội gây phương hại đến chính quyền.

* Từ năm 1945 đến nay, Hiến pháp là cơ sở nền tảng của hệ thống pháp luật nước ta. Nhà nước đã ban hành bốn bản Hiến pháp.

- Hiến pháp năm 1946 : Ngày 9 – 11 – 1946, Hiến pháp nước Việt Nam dân chủ cộng hoà đã được Quốc hội biểu quyết thông qua. Bản Hiến pháp được xây dựng dựa trên những nguyên tắc :

+ Đoàn kết toàn dân, không phân biệt giống nòi, gái trai, giai cấp, tôn giáo.

+ Đảm bảo các quyền tự do dân chủ.

+ Thực hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân.

- Hiến pháp năm 1959 : Hiến pháp xã hội chủ nghĩa đầu tiên ở nước ta, được Quốc hội thông qua ngày 31 – 12 – 1959. Bản Hiến pháp quy định xây dựng một bộ máy nhà nước kiểu mới dựa trên nguyên tắc tập trung dân chủ theo pháp chế xã hội chủ nghĩa. Đây là bản Hiến pháp của thời kì xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh thống nhất nước nhà.

- Hiến pháp năm 1980 : Hiến pháp của thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội trong phạm vi cả nước, được Quốc hội thông qua ngày 18 – 12 – 1980. Bản Hiến pháo tổng kết và xác định nhưng thành quả đấu tranh cách mạng của nhân dân Việt Nam trong nửa thế kỉ qua, thể hiện ý chí và nguyện vọng của nhân dân ta, đảm bảo bước phát triển của xã hội trong thời gian tới.

- Hiến pháp năm 1992 : Hiến pháp của thời kì đổi mới đất nước, được Quốc hội thông qua ngày 15 – 4 – 1992. Bản Hiến pháp thể hiện tinh thần đổi mới, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước, phù hợp với xu thế của thời đại.

___________________________

(*) Lấy theo ĐẠI CƯƠNG LỊCH SỬ VIỆT NAM. Toàn tập. Nxb Giáo dục, 2001.